|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ..:: Hot News: | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Thursday, 28.01.2010, 12:10am (GMT) Khi bàn về công tác kiểm tra, lượng giá sau mỗi bài thực hành nhiều giảng viên băn khoăn không biết nên tổ chức lượng giá như thế nào để đảm bảo thời gian thực hành của sinh viên, đảm bảo thời gian lượng giá, không kéo dài thời gian thực hành theo quy định của Nhà trường mà vẫn đảm bảo công bằng, khách quan, chính xác. Trong thời gian qua do quy chế đào tạo thay đổi nên một số bộ môn tỏ ra lúng túng khi tổ chức lượng giá sau mỗi bài thực hành, Có thể nêu ra một vài xu hướng để chúng ta cùng nhìn nhận lại. 1. Cho sinh viên được lượng giá sớm để kết thúc bài thực hành đúng giờ quy định của Nhà trường. Trong thực hành, thí nghiệm mục tiêu chính là làm cho sinh viên làm quen và làm được các thí nghiệm, hoặc nhận thức được các khái niệm trừu tượng qua các giáo cụ trực quan ở mức độ thực tập, từ đó hình thành các kỹ năng thực hành hoặc khắc sâu kiến thức được học. Từ mục tiêu trên chúng ta thấy phải giành tối thiểu trên 80% thời gian cho sinh viên được thực hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên mới đảm bảo mục tiêu của thực tập. Nếu không đảm bảo thời gian thực tập, tăng thời gian đánh giá sẽ dẫn đến nghịch lý là sinh viên được thực tập ít, bị kiểm tra nhiều dẫn đến suy giảm chất lượng đào tạo do không đủ thời gian thực tập (mục tiêu của bài thực tập cũng không phải là lượng giá). 2. Đảm bảo thời gian thực tập của sinh viên nhưng lượng giá kéo dài vượt quá giờ quy định của Nhà trường. Xu hướng này diễn ra nhiều hơn, vì mỗi nhóm sinh viên đông khoảng trên 30 sinh viên, trong quá trình lượng giá, sinh viên phải làm lại các thí nghiệm hoặc một phần các thí nghiệm hoặc trả lời các câu hỏi của giảng viên nên việc lượng giá có thể kéo dài từ 1,5h đến 2,5h mới kết thúc, giảng viên rất vất vả vì phải hỏi nhiều và bị gò bó về tâm lý, sinh viên phải chờ đợi kiểm tra lâu nên hết sức căng thẳng. Trong đào tạo theo tín chỉ các giờ học được quy định rõ ràng và phải nghiêm ngặt thực hiện, nếu tiến hành thực tập vượt quá thời gian quy định sinh viên sẽ không tham gia được các buổi học kế tiếp dẫn đến phá vỡ lịch đào tạo. Chưa nói ảnh hưởng đến thời gian tự do của giảng viên, kỹ thuật viên, sinh viên, tiêu hao điện nước, sinh phẩm thực tập và không đúng quy định của Nhà trường. Việc kéo dài giờ thực hành của một vài bộ môn đơn lẻ trong một thời gian ngắn còn có thể chấp nhận được, nếu xảy ra ở nhiều bộ môn sẽ dẫn đến quá tải cho sinh viên và gây lãng phí lớn cho Nhà trường. 3. Làm thế nào để duy trì đúng lịch thực tập mà vẫn lượng giá được đảm bảo khách quan, công bằng, hiệu quả. Lượng giá ngay sau mỗi bài thực hành có ba ý nghĩa: - Làm cho sinh viên phải nghiên cứu bài thực hành trước khi thực hành, sinh viên tận dụng mọi thời gian để thực hành, cố gắng làm đúng quy trình được hướng dẫn của bài thực hành, cố gắng đạt được mục tiêu của bài thực hành. - Phân loại được các nhóm sinh viên giỏi, khá, trung bình, yếu bằng cách cho điểm bài thực hành theo mục tiêu đề ra để khuyến khích sinh viên học tập. - Căn cứ vào kết quả lượng giá giảng viên và bộ môn có những rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời về nội dung, phương pháp, cách tổ chức thực hiện để các buổi thực hành sau được tiến hành tốt hơn những buổi thực hành trước. Như vậy mục đích việc đánh giá ngay sau mỗi buổi thực hành không phải xem sinh viên đã làm thuần thục kỹ thuật chưa, hay đã thuộc lầu bài học chưa, vì nếu đặt ra mục tiêu này sẽ là quá cao sau một bài thực tập. Mục đích lượng giá là để thúc đẩy sinh viên tận dụng mọi thời gian, điều kiện để thực hành, để tự học tốt hơn. Vì thực tập, thực hành, thí nghiệm chưa phải là kết thúc của quá trình học tập mà mới chỉ là bắt đầu của quá trình học tập, việc học tập còn phải còn phải được sinh viên tiến hành trong suốt quá trình đào tạo và trải qua một quá trình thực tiễn lâu dài mới có thể thuần thục và tự động hoá được. Như vậy khi lượng giá cuối bài (chiếm khoảng 1/6 thời gian thực hành) làm sao đảm bảo được các yêu cầu trên. Mấu chốt là phải đánh giá sinh viên hoặc nhóm sinh viên ngay trong buổi thực hành. Ngay trong quá trình thực hành đã phải đánh giá được sinh viên hoặc nhóm sinh viên đang ở mức độ nào. Việc đánh giá trong quá trình nên cho tối thiểu 40% điểm của bài thực hành (bằng cách cho điểm các tiêu chí như sinh viên đi thực hành đúng giờ cho 1 điểm, chấp hành tốt nội quy thực hành cho 1 điểm, làm đúng các quy trình kỹ thuật cho 1-2 điểm, đạt được mục tiêu của bài thực hành cho 1-2 điểm…), số điểm còn lại sẽ được đánh giá bằng bảng kiểm vào cuối mỗi buổi thực tập, tổng điểm của hai phần trên chính là điểm của bài thực hành. Tuỳ theo đặc thù của mỗi bộ môn nên có cách tổ chức đánh giá cho thích hợp sao cho hiệu quả, công bằng, khách quan, thúc đẩy được quá trình tự học của sinh viên. Việc giới thiệu nội dung bài thực hành, hướng dẫn thực hành, sinh viên thực hành, lượng giá cuối bài phải đảm bảo sự cân đối hợp lý để đạt được mục tiêu bài thực hành và đạt được hiệu quả đào tạo. Trên đây chỉ là một số ý kiến xung quanh việc tổ chức đánh giá ngay sau mỗi bài thực hành, nhưng việc đánh giá trong quá trình thực hành và trong cả quá trình đào tạo là một quan điểm xuyên suốt của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vấn đề chính của lượng giá thường xuyên là để thúc đẩy quá trình tự học của sinh viên và cũng giúp cho giảng viên điều chỉnh nội dung, phương pháp cho phù hợp với đối tượng đào tạo. Không nên tổ chức lượng giá cuối bài nặng nề như thi kết thúc học phần thực hành vì nếu làm như vậy sẽ biến quá trình lượng giá thúc đẩy học tập trở thành một gánh nặng cho giảng viên, sinh viên và quá trình đào tạo. Ngày 26 tháng 01 năm 2010 Lại Ngọc Khánh – Phó trưởng phòng Đào tạo
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên 284 đường Lương Ngọc Quyến Thành phố Thái Nguyên ĐT: 0280 852671; Fax: 0280 855710 ; Email: dhyktn@hn.vnn.vn |